17 Năm Trong Các Trại Cải Tạo Của CSVN (chương 44 – 47)

Hồi Ký Kale

làm việc

Chương 44. Đội Mộc.

Vào đầu năm 1984, tôi được chuyển về đội làm mộc của trại Z30D.  Các trại viên làm ở đội này thường là những người tình nguyện khi trại có nhu cầu tuyển một số trại viên có tay nghề để bổ sung cho đội.  Lần này thì tôi không tình nguyện vì tôi cảm thấy làm nông nghiệp ở trại Z30D cũng không đến nỗi quá nặng nề như ở trại Tân Lập và nhất là chỉ làm rẫy, không có những con đĩa mà tôi kinh khiếp nhất.  Thêm vào đó, đi làm nông nghiệp còn có cơ hội để thu nhặt được những thức ăn cải thiện nữa!  Tuy nhiên chính cái lịch sử làm mộc ở trại Tân Lập đã đưa tôi vào đội mộc của trại Z30D.

Nhà ở của đội nằm cuối khu trại, gần nhà bếp và đó cũng là nhà ở cho các trại viên làm trong đội bếp.  Đó là một dãy nhà lá dài và không ngăn riêng thành từng phòng giam.  Vách nhà làm bằng lá buông đắp vào lớp tre đan và những song cửa sổ làm bằng những thanh tre dọc.  Đây quả thật là một kiến trúc rất sơ sài đối với một nhà giam.

Khoảng một trăm năm mươi trại viên thuộc ba đội được nhốt trong căn nhà giam dài khoảng sáu mươi thước ngang sáu thước.  Các trại viên thuộc đội bếp ở một đầu nhà, đội mộc ở giữa, và đội xây dựng ở đầu kia.  Có hai nhà vệ sinh ở hai đầu nhà.  Các trại viên nằm ngủ trên những vạt đan bằng tre và đặt lên một khung gỗ hai tầng.  Cách bố trí trong nhà giam cũng tương tự như ở trại Tân Lập chỉ có điều mọi thứ vật liệu được làm rất cẩu thả.  Chúng tôi không có kệ để đồ đạc cho nên phải đặt ngay trên đầu chổ nằm.  Căn phòng tuy thế vẫn còn chỗ trống cho nên chúng tôi cũng không đến nỗi quá chen chút!  Điều tệ hại nhất là nền nhà bằng đất nên trong nhà rất bẩn thỉu.  Ba đội ở trong nhà giam này thường làm từ sáng đến tối mới về phòng để ngủ, vì vậy cũng không ai quan tâm nhiều đến vấn đề vệ sinh này!

Khi về đây, tôi gặp lại những người bạn và những sếp cũ của tôi, những người đã ở lại trại Thủ Đức khi tôi bị chuyển ra trại Tân Lập năm 1977.  Họ đều làm ở đội bếp.  Trong thời gian sống ở đây, tôi chỉ nhớ có một người bị chết vì bệnh, đó là ông Cựu Tổng Trưởng Phát Triển Sắc Tộc của nội các cuối cùng của chính phủ Nam Việt Nam.  Một số khác thì đã ở trại Z30D với tôi cho đến đợt thả rộng rãi năm 1988 như Lương, cựu trưởng ban A10, Trang, cựu trưởng ban A8, và một số khác thì ở lại trại với tôi cho đến chung cuộc như Cang, nguyên Đặc Ủy Trưởng, Nghi, nguyên trưởng toán đặc nhiệm Cảnh Sát Đặc Biệt.

Đội mộc là đội có số trại viên đông nhất toàn trại Z30D, nó được chia ra làm bốn nhóm: nhóm mộc, nhóm xây dựng, nhóm xẻ gỗ, và nhóm rèn.

Nhóm làm mộc và nhóm xây dựng khoảng ba mươi trại viên thường làm việc hỗ trợ nhau trong những công việc như đóng đồ mộc trong nhà, làm cửa nhà, và làm những công việc của xây dựng như gắn cửa, gắn đòn tay và vì nhà, và làm nhà bằng cây gỗ hay tre nứa.

Nhóm xẻ gỗ khoảng mười lăm trại viên có nhiệm vụ xẻ gỗ bằng cưa vòng và cưa mâm, cung cấp gỗ thành phẩm cho mộc và xây dựng.

Nhóm rèn khoảng mười trại viên chuyên làm dao cho đội lâm sản, làm và sửa cuốc cho các đội nông nghiệp.

Nhà lô của đội mộc nằm gần con suối.  Đó là bốn căn nhà lá nằm trong một khoảng đất độ một mẫu, rào quanh bởi dây kẽm gai: một láng dành cho nhóm mộc và xây dựng, một dành cho nhóm rèn và xẻ, một dành cho những trại viên ở lại làm vào buổi trưa, và nhà cho các cán bộ.  Căn nhà duy nhất có vách là nhà ở cho các cán bộ.  Láng xẻ và rèn nằm song song với một con đường đất sét đi từ K1 sang K2 và nằm đối diện với nhà bếp (bếp sau đó dời vào một nơi khác).  Căn nhà dành cho cán bộ nằm cạnh cổng chính đi vào khu mộc và gần với láng rèn và xẻ.  Nhà dành cho trại viên ở lại làm buổi trưa nằm thẳng góc với nhà dành cho cán bộ, và căn láng mộc và xây dựng nằm cuối khu đất, song song với láng rèn và xẻ.  Tất cả các cấu trúc được làm theo hình chử U với khu đất trống ở giữa dùng để chứa cây gỗ.

Làm công việc xây dựng ở trại Z30D tương đối dễ dàng hơn ở trại Tân Lập vì cây gỗ đã được cắt sẳn theo hình dáng và kích thước với cưa xẻ và cưa mâm.  Chúng tôi không phải đẻo và bào tròn.  Các lỗ mộng thì hình vuông và dùng đinh để đóng, do đó cũng đơn giản hơn làm mộng đuôi cá.

Đầu tiên thì chúng tôi chỉ có nhiệm vụ làm và sửa chữa các nhà lô của các đội, sửa chữa các nhà của khu trại và khu cơ quan.  Khoảng sáu tháng sau, một cán bộ tên là Nhu nắm quyền điều hành đội và mọi việc đều bắt đầu thay đổi.  Trại viên phải làm việc nhiều hơn tám giờ mỗi ngày và đôi khi còn phải làm cho tới tối mịt.  Tổng số trại viên của đội lên tới con số trên một trăm người.  Nhu đốt các căn láng trong khu mộc và cho xây dựng mới, và nhà ở cho trại viên làm ngoài giờ được trang bị lại với những sàn ngủ vì chúng tôi không những phải làm trưa mà còn phải ở lại làm đêm.  Căn láng xẻ và rèn được xây hai tầng: tầng trên dành cho cán bộ canh gác láng mộc và tầng dưới thì đặt máy cưa và làm phòng cho những người làm mũi cưa.  Một căn nhà hình bát giác nằm cạnh cánh cổng được xây dựng cho Nhu mỗi lần đến kiểm tra công việc của đội và sau đó dành cho Giới, trại viên phụ với Nhu trong công tác xây dựng.

Khi công việc của đội quá nhiều, Nhu đã thành lập ba nhóm cưa xẻ gồm một nhóm của các cán bộ để liên tục xẻ gỗ hai mươi bốn giờ mỗi ngày.  Trại viên phải ở lại nhà lô và thay phiên nhau làm việc.  Buổi tối, Nhu buộc các trại viên trong các đội khác chuyển mạt cưa đem đổ dấu vào các ruộng mía.  Đội kiểm lâm của tỉnh Thuận Hải cũng thường đến kiểm tra về việc phá rừng, nhưng không thể tìm thấy dấu vết.  Đôi lúc họ cũng đã bắt giam các trại viên đi lấy gỗ, nhưng rồi cũng phải thả ra vì họ không thể giử các trại viên đang ở trong trại cải tạo.  Khoảng chừng sáu tháng sau, rừng quanh trại hoàn toàn bị khai phá.  Nhu cho các trại viên trồng cây bạch đàn xen lẫn với mía để thế vào.  Gỗ quý được xẻ và chuyển đi nơi khác.  Nhu càng lúc càng giàu và càng có thế lực.

Công việc xây dựng trong trại cũng được tiến hành để thay thế các căn nhà lá.  Đầu tiên thì nhóm xây dựng chỉ phụ các nhà thầu làm nhà trong khu B của trại.  Sau đó, chúng tôi phải tự xây nhà lấy.  Những căn nhà được xây lên rồi phá xuống rồi xây lại nhiều lần.  Tôi không biết tại sao, nhưng vài cán bộ cho biết rằng Nhu làm như thế để thu tiền của “nhà nước” về cho “trại”, vì hắn ta sẽ báo cáo tổng số diện tích xây dựng lên trên để nhận ngân khoản.

Trong thời gian ấy thì Giới, một trại viên trước là thiếu tá dù của VNCH, phụ cho Nhu trong công tác xây dựng và nắm hết mọi quyền hành mặc dù Tứ là đội trưởng của đội mộc.  Tôi cảm thấy không an toàn chút nào trong công tác xây dựng vì công việc làm rất cẩu thả, do đó tôi đã nói với Tứ chuyển tôi về nhóm xẻ gỗ.  Trong nhóm này, tôi phụ đẩy máy cưa và đôi khi đi đo và tính gỗ do đội lâm sản chuyển về khu đất bên cạnh khu mộc.  Cây gỗ hầu hết là loại gỗ quý như Cẫm Lai, Trắc, Gỗ Tếch, Gõ Đỏ vân vân được đem về quá nhiều đến nỗi đôi khi tôi phải đo cả ngày và tối lại mới có thời giờ để tính toán khối lượng.

Làm việc trong đội mộc, tôi không thể thu hoạch được thêm thức ăn như lúc làm trên các cánh đồng.  Nhưng được cái là nhà lô của đội nằm gần bờ suối, do đó tôi làm một số câu cắm đặt ở bờ suối và bắt cá góp thêm vào bửa ăn.  Đôi khi tôi có thể dùng buổi trưa để đi câu ở suối nữa.

Cho đến năm 1986, khi nhiều nhà đã được xây dựng, Nhu chuyển tôi về làm công việc vẽ tranh để trang trí nội thất, tuy nhiên tôi vẫn thuộc nhân số của đội mộc.

Chương 45. Nhu Và Sự Thay Đổi Của Trại Z30D

Cuộc sống của chúng tôi ở trại Z30D tuỳ thuộc rất nhiều vào một cá nhân.  Tên hắn ta là Trịnh Văn Nhu.  Hắn ta điều hành trại theo đường lối riêng của hắn, và là một bóng ma không những đối với trại viên mà cả đối với cán bộ nữa.

Trại trưởng trước của trại là Đoàn Mạch, người đã từng làm trại trưởng của trại Thủ Đức từ những năm 1975.  Khi tôi mới chuyển về trại Z30D thì Mạch vẫn còn là trại trưởng và Phúc là trại phó.  Trưởng phân trại K1 là Ninh.  Nhu lúc ấy chỉ là trung úy phụ trách về hậu cần.  Ban Giám thị trại lúc ấy điều hành trại theo một đường lối mà tôi vẫn thấy ở trại Tân Lập với mục đích là giữ cho trại viên trong một kỷ luật và lao động như thường lệ.  Chúng tôi làm lao động tám giờ một ngày và chỉ làm công việc lao động hàng ngày trên những cánh đồng bắp nhỏ hay làm việc trong các nhà lô.  Khu vực quanh trại vẫn còn hoang vắng; cây cối và bụi rậm còn mọc dầy đặc.  Trại lúc ấy còn có vẻ rất tạm thời ngoài các kiến trúc ở khu A.

Nhu bằng với tuổi của tôi, lúc ấy khoảng bốn mươi, nhưng hắn trông có vẻ già hơn.  Hắn ta lùn, ốm, và có diện mạo trông rất rõ ràng là của một người bần nông miền Bắc mặc dù hắn đã cố tìm cách che đậy bằng mọi phương tiện!  Da ngâm đen, và hàm răng hô được gắn rất nhiều vàng, điều mà chúng tôi thường nói đùa lén với nhau là “khi hắn ta cười thì cả bầu trời này đều rực rỡ.”  Cái kỳ cục nhất của hắn ta là cách ăn mặc khác thường.  Khi tôi gặp hắn ta lần đầu ở nhà kho, hắn ta mặc một bộ vét màu xanh lá mạ rất rực rỡ mặc dù trời hôm ấy rất nóng.  Tôi cũng thấy nhiều lần khác hắn ta mặc đồ pi-da-ma đi khắp nơi trong trại cũng như trong các hiện trường lao động của trại viên.  Khi nói chuyện với các trại viên lớn tuổi, hắn ta cố dùng những từ ngữ thân thiện, nhưng tư cách thì lại tỏ ra rất mất dạy.

Vào năm 1985, tôi nghe nói rằng Nhu được bầu vào chức vụ Bí thư của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản của trại, đó là một chức vụ quan trọng ở cơ quan trại.  Trong quốc gia của Cộng Sản, luôn luôn có hai tổ chức trong cùng một đơn vị: tổ chức chính quyền và tổ chức Đảng (Đảng Cộng Sản).  Ở cơ quan trại thì có hai đơn vị chính là Ban Giám Thị và Hội Đồng Cán Bộ, và hai tổ chức Đảng của hai đơn vị này là Đảng Bộ và Đoàn Thanh Niên Cộng Sản.

Do nhu cầu xây dựng trại, Nhu bắt đầu nắm lấy quyền điều hành đội mộc.  Hắn ta không làm Cán Bộ quản giáo, nhưng vì là Cán Bộ hậu cần và là Bí Thư đoàn Thanh Niên, hắn ta điều hành hết mọi công việc của đội.  Cán bộ quản giáo lúc ấy chỉ là bù nhìn!  Nhu thay đổi cán bộ quản giáo của đội bất kỳ lúc nào.  Hắn ta tái tổ chức đội, đặt hai tổ mộc và xây dựng lại với nhau, và biên chế nhiều trại viên vào đội.  Đội mộc trở thành một điểm nóng của toàn trại với tổng số trại viên lên đến trên một trăm người.  Hắn ta buộc trại viên làm việc nhiều hơn là tám giờ một ngày, và đôi khi hắn ta lấy đồ vật trong nhà kho của cơ quan để “bồi dưỡng” cho trại viên.  Chẳng ai dám phê bình hắn vì hắn ta là cán bộ hậu cần, và hắn cũng thường bảo rằng: “thủ kho to hơn thủ trưởng.”

Nhu nổi lửa đốt nhà lô của đội mộc rồi cho xây dựng mới.  Căn nhà dành cho các trại viên làm ngoài giờ được làm vách và đặt sàn nằm vì hắn ta buộc trại viên của đội làm cho đến tối mịt và không được nhập trại vào buổi trưa.  Căn láng của máy cưa xẻ thì được xây hai tầng; tầng trên dành cho cán bộ canh gác khu nhà lô ngày lẫn đêm, và tầng dưới thì để máy cưa.  Một căn nhà cho cán bộ quản giáo ở gần cổng và một căn nhà hình bát giác ở cạnh đó dành cho riêng hắn ta mỗi lần đến nhà lô.

Sau khi đội mộc đã được tái tổ chức, Nhu bắt đầu nắm lấy đội xây dựng.  Đội này đang phụ với các nhà thầu xây dựng căn nhà ở khu B của trại.  Khi đội xây dựng đã được tái tổ chức, Nhu đuổi các nhà thầu và cho đội xây dựng tự làm các nhà trong khu B.  Những căn nhà này được làm rất cẩu thả so với các nhà khác với tường mười thay vì hai mươi phân, và các sàn nằm thì xây bằng xi măng thay vì lát gạch.  Nhu không quan tâm đến chất lượng xây dựng mà chỉ chú ý đến thời gian.  Đôi khi hắn ta buộc trại viên phải hoàn tất công việc trong một hai ngày không kể ngày đêm hay phẩm chất tốt xấu.  Hắn ta thường xuyên hiện diện ở các điểm nóng.  Hắn ta thưởng cho những trại viên làm việc siêng năng và xử phạt các trại viên tỏ ra lười biếng.  Những tưởng thưởng này chỉ là một ít thịt, một ít đường, hay đôi khi là một bộ đồng phục tù, nhưng chúng tôi cũng phải ra sức lao động vì không ai muốn bị nhốt kỷ luật.

Trong thời gian này, trại viên nằm đầy trong các phòng giam kỷ luật.  Các cán bộ đôi khi phải dời các trại viên ở quá lâu trong ấy về cùm ở phòng giam để dành chỗ cho những trại viên mới vào.  Một khi trại viên bị nhốt kỷ luật, họ phải ở trong đó cho đến khi Nhu nhớ và thả ra.  Đôi khi cán bộ trực trại còn phải nhắc Nhu về những trại viên bị cùm quá lâu.  Nhu thưởng phạt trại viên một cách rất bất thường.  Tôi nghĩ rằng hắn ta muốn cảnh cáo cho những trại viên khác để họ làm lao động tích cực hơn.  Ngoài ra, hắn ta cũng muốn chứng tỏ cho các trại viên biết rằng hắn ta có quyền hành vô giới hạn; hắn ta có thể làm mọi việc mà không cần biết đến giới hạn của luật pháp.

Do nhu cầu xây dựng, đội lâm sản sau đó đã bị Nhu nắm lấy quyền hành.  Nhu đốt khu rừng phía bên kia suối nơi đội lâm sản dựng nhà lô.  Hắn ta cho xây lại nhà lô của đội lâm sản ở khu vực K3, gần chân núi Mây Tàu.  Hắn ta biên chế thêm trại viên vào đội này và cho nhiều cán bộ vào cùng làm với các trại viên đồng thời quản chế trại viên luôn.  Đội lâm sản đôi khi phải ở luôn trong rừng cả ngày lẫn đêm.  Cây cối được hạ và chuyển về nhà lô đội mộc dấu ở khu đất trống bên cạnh.  Rừng chung quanh trại bị phá quá nhanh cho nên toán kiểm lâm của tỉnh Thuận Hải thường vào để kiểm tra trại.  Nhu cho trại viên đem dấu mạt cưa trong các ruộng mía, và che dấu các cây gỗ bằng lá buông và mía.  Hắn ta tổ chức tiệc tùng cho các nhân viên kiểm lâm mỗi khi họ đến kiểm tra trại, và rồi dần dần các toán kiểm lâm này đã bị mua chuộc.

Kể từ khi Nhu nắm lấy đội mộc thì trại Z30D cũng bắt đầu thay đổi.  Đầu tiên các khu nhà giam tạm thời của khu B và C bị hạ.  Khu D biến thành khu B với bốn căn nhà mới xây thêm.  Khu nhà bếp mới được xây dựng ở gần với khu B, và khu bệnh xá ở gần khu A.  Khu trại được rào quanh bằng tường gạch và chỉ có một vọng gác nằm thẳng với hội trường giửa hai khu A và B.  Khu nhà giam kỷ luật nằm phía sau hội trường.  Hai bức tường ngăn cách khu A và B với khu hội trường.  Khu đất nằm giữa khu nhà bếp và khu bệnh xá được dùng làm khu vực tập họp trại viên đi lao động.  Sau đó Nhu cho xây dựng một thư viện ở gần bệnh xá, đào và xây hồ nuôi cá vàng, và làm một vườn hoa bên cạnh.  Muốn đi vào bệnh xá, mọi người đều phải đi qua một cây cầu bắt ngang hồ nước.  Thư viện được làm hai tầng: tầng dưới làm thư viện còn tầng trên thì làm phòng nơi Nhu tiếp khách vào thăm trại.  Hai kiốt nằm hai bên đường vào hội trường dùng làm “căn tin” bán đồ đạc cho các trại viên có tiền.  Khu hội trường sau đó biến thành cái gọi là “khu vui chơi.”

Không những ở trong trại mà cả khu cơ quan và khu vực chung quanh trại cũng hoàn toàn thay đổi.  Trại viên phải đào ao trong khu cơ quan và xây cầu cùng các nhà nổi trên các hồ nước.  Khu vực phía trên suối được đào để làm hồ nước thủy điện.  Lòng suối thì được cẩn bằng đá lấy từ núi về.  Rất nhiều công viên được thành hình ở hai bên suối.  Nhu cho xây lại khu thăm nuôi phía bên kia suối, cất nhiều nhà cho thân nhân ở lại qua đêm để thu tiền và làm một căn tin để bán đồ cho thân nhân.  Mọi việc đều được thực hiện bằng lao động nặng nhọc của trại viên.

Sau khi các kiến trúc của trại gần hoàn chỉnh thì Nhu đưa một số trại viên đi xây những căn tin và khách sạn ở lề đường của Quốc Lộ Số Một và đi xây đập thủy điện ở thị xã Tân Xuân, cách trại khoảng sáu mươi cây số.  Cùng khi ấy thì đội lâm sản được dời vào khu mới để hạ cây gỗ và phá rừng để trồng mía và bạch đàn.  Khoảng sáu tháng sau thì khu vực rừng rậm chung quanh trại khoảng trên mười lăm cây số đều bị tàn phá.  Cây bạch đàn được trồng vào để thay thế cho các loại cây gỗ quý đã được trồng hàng trăm năm trước.  Nhu càng lúc càng trở nên giàu có và có thế lực!

Sự thay đổi còn xảy ra trong nội bộ nhân sự ở cơ quan nữa.  Sau khi trại trưởng Đoàn Mạch nghỉ hưu, “trung ương” cử Ý vào thay, và Nhu lên làm trưởng phân trại K1 mặc dù lúc ấy hắn ta chỉ mới mang lon trung úy.  Nhu bắt đầu nắm hết quyền hành ở cơ quan và Ý chỉ là một bù nhìn.  Trại phó Phúc thì là một bóng mờ, không ai để ý gì đến hắn ta.  Ninh, nguyên trưởng phân trại K1 được chuyển đi nơi khác khi Nhu thay thế.  Mọi việc từ K1 đến K2 đều nằm trong tay Nhu.  Sau một thời gian thì cả hai phân trại K1 và K2 được nhập vào nhau và Nhu trở thành trưởng trại mặc dù lúc ấy hắn ta chỉ mới mang quân hàm đại úy.  Sau khi nhiều trại viên được thả vào năm 1988, trại Z30C ở cách trại Z30D khoảng ba mươi cây số được sát nhập vào và Nhu biến thành trại trưởng của liên trại, lúc ấy thì hắn ta mang lon thiếu tá.  Hắn ta leo lên bốn cấp chỉ trong vòng ba năm.  Hắn đặt các “đàn em” vào các chức vụ trưởng phân trại K1 và K2 để dễ dàng hành động theo ý.

Các cán bộ cũng rất sợ Nhu.  Các cán bộ quản giáo và vũ trang luôn phải canh chừng để loan báo cho các trại viên biết khi thấy Nhu đi đến từ xa vì nếu có điều gì đó xảy ra thì không những trại viên bị cùm mà các cán bộ cũng có thể bị chuyển đi.  Có một lần tôi đi vẽ bức tranh tường ở khu cơ quan; các trại viên thì đang đào ao gần đó, và các cán bộ cũng đang làm lao động ở gần để chặt bỏ các cây xoài.  Một cán bộ đang chặt nhánh một cây có đầy kiến vàng.  Hắn ta nhảy ra xa để phủi kiến đeo đầy cổ.  Tôi nghe Nhu la lớn lên: “Mày sắp là Đảng viên mà lại sợ mấy con kiến vàng à?”  Tên cán bộ đành phải tiếp tục làm việc, một tay cầm dao chặt nhánh xoài còn một tay thì phủi mấy con kiến đang đeo ở cổ.  Thật là một cảnh tượng mà tôi chưa hề trông thấy bao giờ!  Nhu đối xử với các “đồng chí” của hắn ta còn như vậy thì đối với chúng tôi hắn ta sẽ đối xử ra sao?

Nhu lại là một con người rất mê tín.  Hắn ta dùng riêng Văn như một người bói toán và coi địa lý.  Trần Hồng Văn, một tên thọt và từng là một ký giả trong chế độ Cộng Sản, bị tù vì tội gì thì tôi không được biết.  Hắn ta quả thật là một tên ba hoa!  Văn được Nhu cho làm việc ở thư viện và được ở trong một căn phòng riêng ở gần thư viện.  Hắn ta bảo với Nhu rằng dòng suối phía sau trại là một con rồng mà cái đầu rồng thì nằm ở gần với tảng đá phía sau khu láng mộc.  Nhu cho xây một căn nhà hình bát giác ngay trên con suối ở đó cho riêng hắn ta, và xây một vườn hoa trông giống hình một ngôi mộ ngay trên bờ suối.  Hắn tin rằng đó là mộ của hắn và khi nó được hoàn tất thì hắn ta sẽ đứng vào ngôi mộ ấy coi như hắn ta đã được chôn ở đó để kiếp sau được tốt.  Tôi biết được điều này nên mặc dù không tin tôi cũng muốn phá ý đồ của hắn ta bằng cách đem chôn một con cá lòng tong mà tôi câu được trong dòng suối.  Tôi khấn rằng nó sẽ biến thành một con kình ngư sau này thay vì Nhu biến thành vương tướng như ý hắn mong muốn!

Trong “thời đại” của Nhu, các trại viên phải làm việc rất nặng nhọc mà lại bị xử phạt một cách rất vô lý.  Vài trại viên đã bị thương tật, bị chết, và vài người bị què khi khai thác vùng đất đầy mìn ở một đồn địa phương quân cũ phía bên kia Quốc Lộ Số Một, để trồng cây bạch đàn.  Trại viên phải làm việc cả ngày lẩn đêm không đủ thời giờ nghỉ ngơi.  Đội mộc phải làm việc hai mươi bốn giờ trong một ngày với hai nhóm làm việc thay phiên nhau trong ba ca.  Những đội khác thì phải làm thêm những việc làm ban đêm như đào ao, đào hồ thủy điện, phụ đội xây dựng.  Nhu tưởng thưởng những đội đi làm đêm bằng cách chiếu phim chưởng của Tàu và bắt buộc mọi người phải ở lại xem với hắn ta cho đến khuya rồi lại phải thức dậy sớm sáng hôm sau để đi lao động hàng ngày như thường lệ!

Chương 46. Trại Viên Nữ.

Đầu năm 1985, sau khi trại vừa hoàn tất cơ bản việc xây dựng bên trong khu trại giam thì chúng tôi được lệnh phải dồn lại nhường hai căn nhà để đón các trại viên mới; đó là những trại viên nữ.  Họ gồm khoảng hai trăm người và chia làm ba thành phần.  Thứ nhất là các trại viên thuộc dạng “chính trị” gồm nhân viên chế độ cũ và những người bị bắt tham gia các tổ chức chống Cộng sau ngày 30 tháng tư năm 1975.  Thứ hai là các người bị bắt vì vượt biên thất bại hay tổ chức vượt biên và những người không có tội trạng rõ ràng nên bị xử án “tập trung cải tạo”.  Thứ ba là những tội phạm hình sự mang trọng tội như cướp của, giết người và mang án tù từ mười năm trở lên.

Hôm ấy tôi đang vẽ bức tranh nền trong hội trường thì các trại viên này được chuyển vào đó để khám xét trước khi cho về phòng giam.  Trông họ cũng chẳng khác gì các trại viên khác, cũng dơ dáy luộm thuộm; đặc biệt là đồ đạc của họ rất nhiều và cồng kềnh hơn các nam trại viên.  Tôi không thể phân biệt được ai cho đến khi nghe có người gọi nhỏ tên mình, và tôi rất ngạc nhiên khi nhận ra đó là bà thiếu tá Thủy, nguyên trưởng toán “Thiên Nga” thuộc Cảnh Sát nữ trước đây.  Có lẽ Thủy là người nữ trại viên duy nhất thuộc “chế độ cũ” bị giữ lại sau gần mười năm cải tạo!

Cũng vào đêm hôm trước đó, trong một trò chơi “bói Kiều” với các bạn trong phòng giam, tôi đã bắt trúng một câu là: “Ở đây âm khí nặng nề, bóng chiều đã ngã, dặm về còn xa! “  Ở trong trại giam mà lại bắt trúng câu ấy thì quả thật là “bất hạnh!”  “Bóng chiều đã ngã”; thời gian ở tù đã chín muồi rồi, đã dài đăng đẳng rồi, thế mà “dặm về còn xa”; đường về còn quá xa xôi, vẫn còn phải ở tù tiếp!  Riêng hai chử “âm khí” thì chúng tôi chỉ đoán là nó ám chỉ đến những oan hồn uổng tử đã chết trong trại vẫn còn vất vưởng đâu đây chứ không hề nghĩ đến những người nữ tù sắp chuyển đến trại!

Trong số các trại viên nữ này tôi muốn nói một ít đến một thành phần được lãnh một cái án rất “kỳ khôi” của Cộng Sản, đó là án “tập trung cải tạo”.  Cũng như những nam trại viên, ngoài những thành phần của “chế độ cũ” thì còn có những người không có một tội danh rõ ràng và không thể có bằng chứng xác thực để kết án, VC đã ban cho họ một cái án “tập trung cải tạo” và chỉ được tha ra khỏi trại khi đạt được “tiến bộ”.  Có những người được ghép những tội danh rất lạ lùng như “âm mưu lật đổ chính quyền”, như “tình nghi vượt biên”, cũng có những người không có tội danh gì mà chỉ là những gái mãi dâm bị bắt trong những vụ càn quét và rồi bị tù thật lâu với cái án “tập trung cải tạo”.  Một thí dụ điển hình là trường hợp của Thoáng, một cô gái bị bắt vào năm mới mười sáu tuổi.  Anh rể cô ấy ăn cướp trên tàu hỏa bị bắt và bị kết án mười năm, được thả ra sau bảy năm tù.  Người chị bị kết án ba năm vì lưu trử tang vật.  Thoáng thì không có tội danh gì mà chỉ là người ở chung nhà với cô chị nên bị kết án “tập trung cải tạo” và được thả ra năm 1986 sau mười năm tù!  Quả là sự “ưu việt” của chế độ Cộng Sản!

Hai dãy nhà 1 và 2 ở khu B, phía bên phải hội trường nhìn từ cổng vào được rào riêng ra dành cho các trại viên nữ.  Đầu tiên thì họ cũng được biên chế vào các đội đi làm nông nghiệp như đa số các trại viên ở trong trại.  Lúc ấy thì trại đang trồng hai loại nông sản chính là mía để cung cấp cho lò đường và ớt để xuất khẩu.

Sau khoảng hai tháng thì Nhu cho thành lập xưởng may để may đồng phục tù cung cấp cho các trại cải tạo trong cả nước và xử dụng hai đội nữ để may.  Nhu tách riêng một phần của khu cơ quan nơi từng là nhà ở của các cán bộ độc thân ra để làm xưởng may.  Tường bao quanh khu xưởng may được xây sau đó và trại viên lại phải đào ao xây hồ, làm nhà nổi, xây cầu bắc ngang để đi vào xưởng may.  Cứ mỗi lần có những công việc như vậy thì toàn thể trại viên trong trại lại phải đi lao động thêm vào ban đêm và làm cả những ngày chúa nhật.  Các đội mộc và xây dựng thì làm và sửa sang nhà cửa; các đội khác thì đào ao, lát đá quanh bờ ao, làm các công viên.

Xây dựng đập thủy điện cho trại là một công trình tốn nhiều công sức của trại viên nhất trong thời gian này.

Dòng suối chảy ngang qua khu vực trại rất nhỏ.  Mùa mưa thì bề ngang khoảng hai mươi thước, nước chảy rất siết.  Mùa nắng thì nó trông giống như một cái mương nhỏ, nhiều chỗ có thể đi ngang qua được vì nước chỉ tới mắt cá chân.  Chỉ có một vài chỗ là có thể tắm được nhưng lại giống như một vũng nước bùn vì mọi trại viên đều được dẫn đến đó để tắm sau giờ lao động.

Khi Nhu ra lệnh làm đập thủy điện thì chúng tôi rất lo sợ vì ở trại không có một công cụ nào để đào đất ngoài mấy cây cuốc hay xà-beng và sức lực của trại viên!  Thêm vào đó không có một ai hay một chuyên viên nào biết về việc xây đập thủy điện.

Công việc trước tiên mà trại viên phải làm là nới rộng lòng suối từ chiếc cầu trở lên.  Hai người một chiếc ky đan bằng tre để di chuyển đất đá đắp vào bờ, dự kiến là sẽ cách bờ suối cũ khoảng một trăm thước.  Số trại viên trẻ và tương đối khỏe hơn thì dùng cuốc, xẻng, hay xà-beng để đào đất.  “Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm.”  Câu “châm ngôn” này của VC đã được áp dụng một cách triệt để.  Trại viên còn thêm vào: “Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, nếu thấy chẳng êm, làm thêm ngày nghỉ!”  Thế là tất cả trại viên chúng tôi đều phải thực hiện cho được chỉ tiêu ấy và làm cả ngày lẫn đêm và không có ngày Chúa Nhật hay ngày lễ nào cả!

Đây là lúc mà toàn thể trại viên đều lao động rất vất vã. Người nào cũng thiếu ngủ, thiếu ăn.  Chúng tôi có thể ngủ bất cứ lúc nào ở bất kỳ nơi đâu.  Một trại viên nào đó đã diễn tả tình trạng ấy trong một bài ca được đổi lời từ một bài hát được nghe gần như hàng ngày trên các đài phát thanh của VC lúc bấy giờ.  Bài hát mang tên “Mùa Xuân trên thành phố Hồ Chí Minh” đã được đổi thành “Mùa Xuân trên trại Z30D”:

“Mùa Xuân này mẹ đi thăm con.

“Mới biết đường lên Ba Mươi Đê (Z30D)

“30D cuốc đất đào ao, cho con tôi thân xác tiêu điều!

“Mờ sương, năm giờ sáng mẹ xuống xe vô thăm,

“Lúc này con ốm nhom, xanh xao gầy còm.

“Còn cần chi con nói me tường.

“Đường đen trong lon guigoz,

“Lon ruốc xào với bao cơm khô.

“Đây bánh chưng hai cái mẹ mua

“Cho con ăn cho đở đói lòng.

“Và đây hai ngàn rưởi mẹ chắt chiu cho con,

“Con cầm dấu đem vô, lo giử hộ mình.

“Cần thì con cứ lấy ra xài.

“Ngày mai me không lên thăm,

“Có ít tiền con lo thân con.

“Bao nhiêu năm trong chốn khổ sai,

“Mong con tôi được sống qua ngày!

“Mùa Xuân trên rừng lá Hàm Tâm xa xôi

“Là mùa Xuân khổ nhất trên đời!”

Việc đào hồ để làm đập thủy điện là một công việc tốn rất nhiều công sức và thời gian, do đó Nhu lựa một số trại viên trẻ và khỏe mạnh để làm thường xuyên, số còn lại thì phải làm những công việc lao động hàng ngày ở trại và chỉ đào hồ vào ban đêm hay ngày nghỉ.  Nhân dịp có số nữ trại viên chuyển về trại, Nhu cho thành lập nhóm đào hồ hỗn hợp nam nữ và Nhu thường gọi đó là toán “mũi nhọn xung kích”.  Đây là nhóm lao động hỗn hợp nam nữ đầu tiên ở trại.  Cũng từ đó, việc “quan hệ nam nữ” bắt đầu diễn ra một cách phức tạp trong trại.

Trong những đêm lao động trên công trình “đập thủy điện”, Nhu thường cho dựng một chiếc lều ở phía trên khu đất tương đối cao và đặt bàn ghế ngồi nghe nhạc, uống trà.  Trại viên lao động bên dưới, Nhu và một số cán bộ ngồi bên trên cao để quan sát trông giống như những phim La Mã diễn lại thời đại vua chúa đang trông coi các nô lệ làm các đền đài lăng tẩm.  Cũng từ đó, nhạc vàng bắt đầu được nghe một cách công khai trong trại vì Nhu luôn mở băng cát sét nhạc vàng để nghe trong những buổi làm lao động ban đêm.

Một thay đổi khác kể từ khi có các trại viên nữ chuyển đến là đội văn nghệ.  Từ trước thì các vai trò nữ trong những vở diễn là do các trại viên nam giả gái, do đó tuồng tích, nhất là cải lương, rất khó tập vì phải chọn những vở có ít nhân vật nữ.  Kể từ khi có đội văn nghệ hỗn hợp thì đội văn nghệ càng trở nên có nhiều sắc thái hơn, nhưng cũng trở thành phức tạp hơn.  Có vài nữ trại viên đóng tuồng cải lương rất xuất sắc như Sương, mặc dù không có nhan sắc nhưng lại rất dễ bắt đèn sân khấu và ca diễn cũng rất khá.  Vài người khác có khả năng ca hát cả tân và cổ nhạc như Ngọc, Thương, Chuyên vân vân.  Nhiều vở cải lương rất khó tập như “Thái Hậu Dương Vân Nga”, “Tấm Cám” đã được đội văn nghệ hỗn hợp này trình diễn rất thành công.

Khi thành lập đội văn nghệ hỗn hợp thì ngoài công việc vẽ tranh để trang trí trại, Nhu giao cho tôi thêm nhiệm vụ phụ đội văn nghệ để làm các công việc về y trang, đạo cụ, và phong màn.  Thật quả là một việc làm rất phức tạp!  Vật liệu trong trại luôn luôn rất hiếm hoi.  Để thực hiện các y trang cho các vở tuồng xưa, tôi đã phải dùng các loại quần áo tù và dùng cả mùng mền rồi nhờ đội may may theo sự tưởng tượng của tôi vì cũng không có một tài liệu nào trong trại để nghiên cứu cả.  Sau đó dùng bột màu và giấy bạc của các bao thuốc lá để trang trí cho các quần áo ấy.  Gươm giáo và các thứ khác thì dùng tre gỗ hay giấy để làm.  Khi hóa trang thì tùy theo tình trạng của từng trại viên mà thực hiện.  Thường thì vài trại viên nữ có sẵn các son phấn riêng của họ, họ giữ để dùng riêng khi hóa trang ra sân khấu.  Ai không có thì tôi đành phải dùng bột màu ở phòng vẽ để bôi lên mặt!  Đây là một việc làm có hại cho làn da, nhưng ai cũng phải chấp nhận vì dù sao thì việc tập để diễn văn nghệ vẫn khỏe hơn là đi lao động.  Có lần Nhu đã cho phép tôi đi cùng với một nhóm trại viên đặc biệt về chợ Bến Thành để mua sắm các son phấn cho đội văn nghệ, nhưng không thể nào đủ vì không có ngân khoản nào cho việc này mà chỉ là tiền riêng của các trại viên nữ đưa nhờ tôi mua dùm.

Đội văn nghệ thường chỉ tập trình diễn mỗi năm hai hay ba lần, mỗi lần khoảng hai hay ba tháng, nhất là trong các ngày lễ Tết hay ngày lễ Độc Lập của VC.  Thời gian còn lại thì bổ sung nhân lực cho những công việc lao động cần thiết trong trại.

Một vấn đề phức tạp xảy ra sau khi các trại viên nữ chuyển đến trại là vấn đề “quan hệ nam nữ”.  Sở dĩ nói rằng đây là một vấn đề phức tạp vì có việc khác xảy ra từ sự quan hệ này.  Trước hết, theo nội quy của trại cải tạo thì luôn luôn nghiêm cấm việc quan hệ giữa các trại viên với nhau cho dù đồng phái hay khác phái.  Trại trưởng Nhu thì ra lệnh phạt rất nặng việc quan hệ nam nữ này, nhưng hắn ta lại khuyến khích nam nữ làm việc chung với nhau.  Hắn ta bảo rằng làm như thế thì kích thích họ hăng say lao động.  Mỗi khi lao động đêm trên công trình làm hồ thủy điện, hắn ta bảo hai trại viên khác phái phải khiêng chung một ky đất, nhưng rồi khi không thích thì hắn ta lại bắt họ nhốt vào nhà biệt giam.  Một điều nữa là mỗi người có một cái nhìn về việc này, người thì kết án hay chê bai, kẻ thì thờ ơ hoặc không có ý kiến.

Sự quan hệ nam nữ này lúc đầu thường xảy ra một cách bí mật qua những bức thư xếp nhỏ lại dấu một nơi nào đó gọi là “kẹo”, hay những cái nhìn, cái liếc mắt từ xa gọi là “chích”.  Rất khó đánh giá được đây là một sự liên hệ tình cảm thật sự hay chỉ là sự lợi dụng để tìm cách thỏa mãn những nhu cầu về vật chất hoặc tình cảm!  Đa số trại viên nữ, nhất là những người thuộc dạng hình sự thường rất thiếu thốn vì không có sự tiếp tế của gia đình.  Họ thường là những người đã bị gia đình từ bỏ hay vô gia cư.  Các trại viên nam thì dù ít dù nhiều cũng có gia đình tiếp tế, tuy nhiên lại sống xa gia đình quá lâu nên thường thiếu thốn tình cảm hoặc chưa có vợ hoặc vợ đã sang ngang(!)  Hai thành phần như thế rất dể gặp nhau nhất là trong hoàn cảnh hạn hẹp của trại cải tạo.  Sự đổi trao một ít vật chất để lấy một ánh mắt, một nụ cười cho dù có giả dối thì cũng là một điều tự nhiên, có tính chất con người.  Nhiều người trong số trại viên cũng đã phê bình gay gắt hay tỏ vẻ chê bai việc quan hệ này, nhưng rồi cũng không thể tránh được sự việc phải xảy ra.

Riêng Nhu thì lợi dụng việc này khi cần thiết và lại xử phạt khi thấy hết cần.  Trong lúc ấy thì chính Nhu lại lập một “cấm phòng” cho riêng hắn ta.  Năm nữ tù được hắn ta chọn riêng ra để ở riêng một giang sơn mà chỉ có Nhu mới được quyền tới lui, trại viên và cả cán bộ đều không dám bén mảng.  Các trại viên đặt tên cho năm người này là “ngũ long công chúa”.  Đó là: Loan, Mai, Châu, Anh, và Phi (sau khi Phi được thả ra thì Tú vào thế).  Bốn người làm trong tiệm may để may và sửa quần áo cho các cán bộ còn Phi thì phụ trách căn-tin. Trong số này thì Loan là người mà Nhu canh chừng chặt chẽ nhất.  Mọi người trong trại không ai bảo ai đều biết rằng cô ta chính là “người của Nhu”.  Liên lạc với một trong số “ngũ long công chúa” là một điều mà các trại viên ít ai dám.  Lộc một trại viên trong đội văn nghệ chỉ vì sự liên hệ với Loan mà bị cùm ở nhà biệt giam nhiều lần.  Nam , trại viên phụ trách kỷ thuật lò đường và âm thanh cho đội văn nghệ, người được Nhu rất tin cẩn đã tự tử bằng thuốc rầy chết vì sự quan hệ với Tú.

Trong thời gian này thì tôi thường đi vẽ các bức tranh tường chung quanh trại và khu cơ quan, cũng như ở những nơi vừa xây dựng xong.  Những viên “kẹo” thường xuyên được bỏ vào thùng sơn với những lời lẽ rất buồn cười.  Tuy nhiên tôi chỉ cảm thấy tội nghiệp cho họ mà thôi, nhất là khi nghĩ lại hoàn cảnh của chính bản thân mình trong thời gian khổ sở nhất ở trại Tân Lập.  Tôi thấy cho dù họ có muốn lợi dụng sự quan hệ để kiếm ăn thì cũng là một điều tự nhiên của bản năng sinh tồn, giống như chính tôi đã phải kiếm cái ăn bằng cách này hay cách khác những khi có dịp.

Riêng có một cô gái mà tôi cảm thấy rất tội nghiệp, đó là Phi, một trong “ngũ long công chúa”.  Tôi biết cô ấy có nhiều tình cảm đối với tôi nhưng lại sợ Nhu nên không dám biểu lộ.  Cô ta vẫn thường để một ca nước sữa đậu nành phía trước phòng vẽ cho tôi mỗi lần có dịp đi ngang qua.  Sau khi được thả ra khỏi trại lại còn viết thư vào cho tôi, tuy nhiên tôi không thể trả lời vì không muốn gieo vào lòng cô ấy một hy vọng.  Lúc ấy thì quả thật nỗi đau vì sự chia tay với vợ tôi vẫn còn cho nên tôi chưa thấy có được một tình cảm nào với ai cả!

Một việc khác rất phức tạp xãy ra trong số các trại viên nữ là việc quan hệ “đồng phái!”  Tôi không biết lý do gì mà trong số nam trại viên lại ít khi thấy có hiện tượng này mà nó lại xãy ra rất phổ biến trong số những trại viên nữ.  Họ giành giật nhau, ghen tuông nhau, thậm chí đánh đập nhau đổ máu vì những “người tình đồng phái”.  Xá, cô gái giử nhiệm vụ đánh trống trong đội văn nghệ có lẽ là một người được nhiều các nữ trại viên “yêu thương” nhất mặc dù trông diện mạo bên ngoài thì rất là luộm thuộm.

Lần lần về sau thì sự liên lạc nam nữ trong trại càng lúc càng trở nên công khai hơn khi trại cho phép các trại viên được ra “khu vui chơi” vào buổi tối.  Đến khi một số trại viên nữ được cho đi làm “diện rộng”, tức làm những việc trong khu vực quanh trại mà không có quản chế, thì có vài trại viên nữ đã có mang và sanh con ngay trong trại.  Lúc ấy thì số nam trại viên thuộc “chế độ cũ” đã được thả ra, chỉ còn lại một số ít, và các nam phạm nhân hình sự được đưa vào chiếm đa số trong trại.

Chương 47. Phòng Vẽ Của Tôi.

Không có gì ngạc nhiên bằng có được một phòng vẽ riêng ở trong trại cải tạo.  Vậy mà điều ấy đã đến với tôi trong trại Z30D.  Năm 1985, khi Nhu, tân trại trưởng, sắp hoàn tất việc tái thiết hội trường trong trại, hắn ta bảo các trại viên trong Ban Thường Trực Thi Đua tìm một họa sĩ để vẽ một bức tranh nền cho hội trường.  Hắn ta muốn bức tranh phải được vẽ vĩnh viễn lên tường chứ không vẽ lên màn để mọi người khi vào hội trường có thể nhìn thấy ngay.

Một hôm trong khi tập họp để chuẩn bị đi lao động thì Thường Trực Thi Đua gọi tôi ở lại trong trại để gặp Nhu.  Tôi rất ngạc nhiên và cũng hơi lo sợ vì tất cả các trại viên đều biết rằng gặp Nhu thường có nghĩa là sắp có tai vạ.  Làm việc trong đội mộc, tôi đã cố gắng tránh né hắn ta bằng cách nói với Tứ, đội trưởng, đổi tôi qua nhóm cưa xẻ thay vì làm trong nhóm xây dựng.  Vào thời gian ấy, trại đang bắt đầu cho tái thiết.  Nhu có mặt hầu như thường trực với nhóm xây dựng, và hắn ta cũng đã đưa rất nhiều trại viên vào các phòng kỷ luật vì hắn ta cho rằng những trại viên ấy “có vẻ” lười biếng.

Tôi đợi Nhu ở hội trường cho đến trưa.  Nhóm xây dựng của đội mộc cũng đang làm trong ấy.  Nhu vào và chỉ cho tôi tấm pa-nen bằng tôn ở cuối hội trường rồi hỏi tôi:

-“Mày liệu có vẻ được một tấm hình lớn ở đó không?”

-“Có thể được, nhưng tôi chưa biết “ban” muốn vẽ gì.”  Tôi trả lời hắn ta với một tiếng thở dài nhẹ nhõm.

-“Chỉ vẽ phong cảnh mà thôi!”  Hắn ta nói xong rồi hát nho nhỏ một câu trong bài ca cũ: “Đường quanh co quyện gốc thông già!” -“Tao muốn mọi người vào hội trường nhìn vào bức tranh của mày sẽ có cảm tưởng rằng hội trường trải ra xa xa.”  Hắn ta nói thêm.

-“Tôi sẽ cố gắng với khả năng có được của tôi, tôi chỉ xin “ban” cấp cho tôi sơn và cọ vẽ.”

Tôi đi theo hắn ta ra kho của cơ quan để lãnh sơn và cọ rồi bắt đầu vẽ bức tranh.

Đó là bức tranh phong cảnh đầu tiên tôi vẽ trong trại cải tạo.  Như tôi đã nói, làm việc vẽ trong trại cải tạo rất nguy hiểm vì mỗi một cán bộ có cách đánh giá khác nhau, và mọi lời phê bình của họ đều không có một ích lợi nào cho người vẽ tranh.  Nhiều trại viên đã bị nhốt kỷ luật vì việc này.  Nhưng trong hoàn cảnh như thế thì tôi không có điều chọn lựa nào khác hơn là làm những điều mà Nhu bảo tôi làm nếu không muốn bị vào phòng kỷ luật!  Để ngăn ngừa, tôi đã vẽ phác mẫu bức tranh và đưa cho Nhu xem trước.

Tôi đã vẽ phong cảnh hồ Xuân Hương ở Đà Lạt, cao nguyên miền trung Việt Nam làm bối cảnh và vài cây thông để làm tiền cảnh; một con đường mòn chạy vòng từ xa và đổ vào cái bục ở cuối hội trường.  Đi vào từ cửa hội trường, người ta có cảm giác dường như đi vào một rừng thông để đến cái hồ ở xa xa.  Tôi hoàn tất bức tranh trong bốn tuần lễ.  Nhu rất bằng lòng và đưa cho tôi một ít tiền để “bồi dưởng”.  Lần đầu tiên trong trại cải tạo tôi đã nhận tiền từ một cán bộ.  Tôi chẳng màng nhiều đến số tiền ấy ngoài việc biết rằng kể từ đó tôi có thể tránh được công việc lao động nặng nhọc, thay vào đó là chỉ có việc vẽ tranh mà thôi.  Tôi tự nhủ là chỉ nên vẽ tranh phong cảnh vì ít nhất thì chúng có vẻ chung chung, và không ai có thể phê bình gì ngoài việc nó đẹp hay xấu.

Sau đó thì Nhu bảo đội xây dựng xây ba tấm tường ở ngoài trời quanh khu vực tập họp trại viên trong sân trại.  Tôi vẽ ba tấm tranh tượng trưng cho ba miền của Việt Nam: Bắc, Trung, và Nam .  Tôi vẽ phong cảnh chùa một cột ở Hà Nội trên bức tường ở gần cổng vào khu B, tháp chuông Thiên Mụ trên bức tường xây gần bệnh xá, và quang cảnh chợ Bến Thành ở bức tường vào cổng khu A.  Mỗi bức tranh ấy cao khoảng hai thước rưỡi, dài khoảng ba thước, và tôi đã phải bỏ ra hàng tháng trường để hoàn tất ba bức tranh ấy.  Sau đó tôi lại phải vẽ lại nhiều lần vì các bức tranh ấy nằm ngoài trời mà lại vẽ bằng loại sơn để sơn trong nhà nên rất dể bị phai dưới mưa nắng.

Tôi được chuyển sang làm công việc vẽ và trang trí, nhưng cũng vẫn thuộc đội mộc.  Hàng ngày, tôi xuất trại cùng với đội ra tới nhà lô rồi xách sơn và cọ vẽ đi vẽ, hầu hết là tranh tường nơi nào mà Nhu bảo tôi vẽ.  Tôi chỉ làm theo lệnh của hắn ta mà thôi.  Để được dễ dàng hơn trong công việc, một hôm tôi nói với Nhu rằng có nhiều cán bộ phê bình tranh tôi với nhiều ý kiến khác nhau khiến tôi cũng không biết phải làm sao cho đúng.  Tôi không biết hắn ta làm gì, nhưng kể từ sau khi ấy chẳng có cán bộ nào đến phê bình tranh của tôi nữa.  Tôi thầm biết Nhu đang cần tôi, nhưng tôi vẫn cố giữ một giới hạn để hắn không có lý do để kỷ luật mình.

Ở trong trại lúc ấy thì mọi trại viên đều phải làm lao động cho dù mưa nắng.  Có một lần Nhu buộc tôi phải vẽ lúc trời đang mưa lâm râm, tôi pha loãng sơn ra trong dầu hôi rồi vẽ lên tường.  Những giọt nước mưa làm sơn chảy nhòe nhoẹt khắp bức tường.  Sau đó thì tôi lại phải cạo hết bức tường rồi vẽ lại từ đầu.  Kể từ hôm ấy, tôi có lý do để nghỉ lúc trời đang mưa.

Đầu năm 1986, trong khi tôi đang vẽ trong căn-tin thì Nhu bảo tôi tìm thêm một họa sĩ nữa để vẽ chung với tôi.  Tôi giới thiệu Điệp, một trại viên vừa chuyển về từ trại Z30C.  Điệp cũng là bạn của tôi lúc làm việc ở cơ quan, và anh ta cũng từng có một phòng tranh riêng ở Sài Gòn trong những năm 1970.  Điệp không quen vẽ phong cảnh.  Khi anh ta mới về trại Z30D thì vài người quen đến nói với tôi tìm cách giới thiệu anh ta ra làm ở phòng vẽ để Điệp không lên làm trong Ban Thi Đua vì ở những trại miền Bắc anh ta đã bị mang nhiều tai tiếng rồi.  Tôi chẳng biết gì về Điệp ở các trại khác, nhưng tốt nhất là giới thiệu anh ta để có người quen biết làm việc chung vì lúc đó cũng rất nhiều công việc mà Nhu giao cho.

Với hai người, Nhu giao cho chúng tôi một cái phòng nằm trong căn nhà, nơi từng là phòng cho cán bộ quản giáo của đội mộc, để làm phòng vẽ.

Phòng vẽ của chúng tôi là một cái nhà mái lá dài khoảng sáu thước ngang bốn thước với nền xi măng và tường bằng ván gỗ.  Nó nằm dọc theo con đường phía trước của nhà lô đội mộc.  Cửa trước phòng vẽ mở ra đường và cửa hông thì nhìn ra miếng đất trống nối liền xưởng mộc với căn-tin kế bên đập thủy điện.  Ngồi từ cửa trước của phòng, tôi có thể trông thấy mọi người đi đến nhà lô đội mộc từ mọi phía; đó là địa điểm quan sát lý tưởng để canh chừng Nhu mỗi lần hắn ta đến quan sát công việc của đội mộc.

Trong phòng vẽ, tôi ngăn riêng ra một góc nhỏ theo bề ngang của phòng và rộng khoảng một thước để làm kho chứa sơn và cũng chứa cả những thứ thuộc “tài sản riêng” của tôi.  Chúng tôi bắt đầu vẽ tranh trên khung vải, hầu hết là tranh phong cảnh.  Khung thì chúng tôi hoặc là tự làm lấy hoặc nhờ đội mộc, vải là loại vải để may quần áo cho trại viên.  Các bức tranh này không thể giữ lâu được, nhất là những bức tranh có kích thước lớn, nhưng chẳng ai cần vì dù sao thì cũng là “nước sông, công tù!”

Cũng trong thời gian này thì Linh, anh rể của vợ tôi, được chuyển về trại Z30D và làm “anh nuôi” trong đội của anh ta.  Hàng ngày, anh ấy đi gánh nước ở bờ suối gần chổ phòng vẽ để về nấu nước uống cho đội anh ấy, và anh ta cũng mang thức ăn cho chúng tôi.  Điệp và tôi thì đưa những thứ mà chúng tôi có như cá tôi câu được ở dưới suối hay những thức ăn mà chúng tôi được “bồi dưởng” từ đội mộc vì đội ấy đang làm cả ngày lẫn đêm để hoàn thành những công trình xây dựng cho trại.

Vào những buổi trưa, tôi thường bỏ đi câu cá ở bờ suối giao cho Điệp ở lại giữ phòng vẽ.  Điệp là “ông từ giữ chùa”!  Gia đình anh ta thường xuyên đến thăm hoặc gửi quà tiếp tế nên anh ta cũng không cần thiết phải kiếm ăn như tôi.  Thời gian này có thể nói là thời gian mà tôi được thoải mái nhất trong cuộc đời cải tạo.  Bên cạnh không phải làm việc nặng nhọc, tôi còn có cơ hội để đi câu cá kiếm ăn thêm, có thể nuôi mấy con vịt xiêm và nuôi cả con mèo nữa.

Nhu không cho phép bất cứ cán bộ nào được đến phòng vẽ ngoài hắn ta ra, do đó chúng tôi chỉ cần để ý đến hắn ta mà thôi.  Kể từ lúc hắn ta bảo rằng các tấm tranh của chúng tôi vẽ chính là ý kiến của hắn thì tôi không còn nghe một lời phê bình bất lợi nào nữa cả!  Một vài cán bộ chỉ lén đến phòng vẽ của chúng tôi là để nhờ chúng tôi làm những việc riêng tư như đóng dùm mấy quyển sổ, vẽ vài bông hoa trong sổ, hoặc giúp các đồ đạc trang trí đám cưới.  Điệp thường làm những việc ấy.  Tôi thì dùng hầu hết thời giờ rảnh ở dưới suối để câu cá, cá nhỏ hay cá lớn đều bắt hết!  Tôi phải tự làm lưỡi câu, và lần lần trở thành một chuyên viên!  Da tôi trở nên sậm hơn, nhưng tôi lại cảm thấy khỏe hơn.  Kể từ khi dòng suối trở thành cái đập thủy điện, cá càng lúc càng hiếm hoi dần.  Đôi khi tôi phải đi xuống phía dưới để câu cá, nhưng tôi vẫn có thể tìm đủ thức ăn.  Điều ấy có thể tiết kiệm được cho gia đình tôi vì tôi chỉ cần thêm một ít gia vị, nước mắm, và vài thứ cần thiết cho đời sống mà thôi.

Hàng ba hay bốn tháng thì mẹ tôi thường lên thăm tôi một lần.  Đôi khi thì con tôi cũng đi theo; thường là vào dịp nghỉ hè hay Tết.  Khi đến sớm nó có thể lẻn vào phòng vẽ để gặp tôi trước khi tôi đi ra nhà thăm gặp.  Tôi cũng không biết nhiều về tin tức của vợ tôi kể từ khi cô ấy nói tiếng “từ giã”.  Con tôi cũng không đề cập nhiều đến mẹ.  Ngoài ra thì tôi cũng không muốn biết nhiều về cuộc sống mới của cô ấy.  Có một lần tôi đi ra nhà thăm gặp để gặp chị vợ tôi khi chị ấy lên thăm chồng là Linh, nhưng chị ấy không muốn gặp tôi và bảo Linh vào nói với tôi rằng tốt hơn thì tôi không nên ra gặp.  Tôi cũng tránh luôn từ đó.  Tôi biết họ không muốn tôi làm phiền đến cuộc sống mới của vợ tôi nữa.  Tôi không rõ cô ấy có làm giấy ly dị hay chưa vì tôi cũng không hỏi.  Tôi nghĩ rằng tôi vẫn còn yêu vợ tôi, nhưng tôi lại thấy nhẹ nhàng hơn vì tôi không còn là một vật cản đường cho cuộc đời của cô ấy nữa!  Trong những bức tranh của tôi đôi khi tôi thêm vào bóng hình một người con gái đi từ xa: một chút buồn, nhưng lại là một sự trống vắng bình yên.  Nhiều người hỏi tôi về sự tĩnh lặng của những bức tranh mà tôi vẽ; tôi thường bảo với họ rằng đó chỉ là biểu hiện nỗi buồn trong nội tâm tôi khi tôi đang ở trong hoàn cảnh này.

Trong thời gian này thì Điệp và tôi vẽ rất nhiều tranh, ít nhất cũng đến con số năm trăm tấm lớn nhỏ, quả thật là một số lượng khổng lồ!  Chúng tôi thường rất phân vân mỗi lần bắt đầu vẽ một tấm tranh mới.  Đôi khi chúng tôi phải dời cái cây, đổi bối cảnh, đổi chiều dòng sông hay dòng suối, thay đổi màu sắc vân vân từ một tấm tranh đã vẽ để biến thành một tấm tranh mới.  Dần dần chúng tôi làm quen với sự tạo hình của tranh phong cảnh!  Chúng tôi có thể vẽ được năm đến mười bức tranh từ một tấm hình mẫu.  Những bức tranh của chúng tôi được treo khắp nơi: trong trại, trong cơ quan, trong nhà thăm gặp, trong căn-tin.  Đôi lúc Nhu lại dùng chúng như một món quà để tặng khách đến thăm trại.  Điều đáng buồn là những tranh này được vẽ bằng sơn để sơn trong nhà và lại vẽ lên loại vải thô rất xấu nên chúng không thể giữ được lâu mà không bị nứt nẻ, phai màu, hay đôi khi bị rách!

Điệp được thả ra vào tháng giêng năm 1988.  Phòng vẽ vẫn tiếp tục hoạt động cho đến khi Lập, một phạm nhân hình sự với cái án chung thân ra làm với tôi năm 1990.  Đến khi ấy thì phòng vẽ được dời vào trong trại, chiếm một phòng nhỏ ở đầu nhà số 1 khu A, gần với văn phòng của “thường trực thi đua”.  Họ sợ Lập sẽ trốn trại nếu được làm ở phòng vẽ bên ngoài.  Tôi không thích làm bên trong trại vì không còn được đi câu cá, nhưng lại không được một sự chọn lựa nào khác.  Lập không biết vẽ tranh, do đó hắn ta chỉ làm công việc trang trí cho ban thi đua.  Thời gian này tôi cũng không có nhiều việc để làm vì mọi thứ đều phụ thuộc vào đội mộc.  Tôi phải đợi họ đóng khung, đợi sơn, đôi lúc phải đợi lệnh của Nhu vì hắn ta không thường xuyên vào phòng vẽ ở trong trại.  Có những ngày tôi không làm gì cả.  Tôi chỉ cho Lập làm những công việc xong rồi nằm lắt lư trên chiếc võng treo trong phòng vẽ hoặc đi đấu láo với các bạn, hoặc lên hội trường phụ trang trí cho đội văn nghệ.  Quả thật là những ngày buồn tẻ!

Vào tháng Chín năm 1990, tôi bị chuyển qua đội lâm sản sau khi bị nhốt vào nhà kỷ luật.  Phòng vẽ cũng đóng cửa từ đó.  Căn phòng biến thành phòng “văn hóa” cho ban thi đua.  “Vắt chanh bỏ vỏ” là cách mà Nhu đối xử với các trại viên khi hết cần thiết. Tôi thừa biết điều này, nhưng quan niệm sống của tôi trong trại cải tạo là “tránh né lao động” được lúc nào hay lúc ấy.  Ít ra thì tôi cũng đã được gần năm năm không phải lao động nặng nhọc!

( Hết chương 44 – 47 .  Xin xem tiếp chương sau. ) 

Liên lạc tác giả KALE:  thongtinlls3@gmail.com

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s