Một tư liệu lịch sử: 30/4/1975 Biên Hòa đã không thất thủ

Chuẩn tướng Trần Quang Khôi - Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ binh.

Chuẩn tướng Trần Quang Khôi – Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ binh.

Một tư liệu quý qua cuộc phỏng vấn Chuẩn tướng (1) Quân lực VNCH Trần Quang Khôi – chỉ huy Lữ đoàn 3 Kỵ binh có nhiệm vụ phòng thủ thành phố Biên Hòa vào những ngày cuối cuộc chiến 1975:

“Có không ít bài viết lờ mờ hoặc viết sai về một số sự kiện trong cuộc chiến. Đặc biệt khi viết về Biên Hòa thì không có bên nào nói đúng. Ai cũng biết Biên Hòa là vị trí chiến lược số 1 của Miền Nam Việt Nam, phi trường Biên Hòa còn là nơi đặt bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân đoàn III và Vùng III Chiến Thuật, đầu não của bộ máy quân sự miền Đông. Biên Hòa là cửa ngõ quan trọng bậc nhất ở phía Bắc thủ đô Sài Gòn. Để mất Biên Hòa là mất Sài Gòn, mất miền Nam VN.


Nhưng cho đến bây giờ, tôi chưa thấy một tài liệu nào nói rõ về Biên Hòa trong những ngày cuối cùng của chiến tranh VN. Thế mà tôi vẫn giữ im lặng cho đến ngày hôm nay, vì nghĩ rằng cuối cùng rồi sự thật lịch sử cũng được phơi bày…” 

(Theo “Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi : 5 Ngày Cuối Cùng Của Cuộc Chiến Tranh Việt Nam “ )

***

Đã sang ngày 28 tháng 4, như Bộ chỉ huy chiến dịch thông báo, hầu hết các hướng phát triển thuận lợi, các binh đoàn chủ lực đã tới trước cửa ngõ Sài Gòn, Còn ở hướng đông, Quân đoàn 4 chúng tôi vẫn gặp phải khó khăn trong nhiệm vụ phát triển về hướng Biên Hoà, vì địch lập tại đây một tuyến phòng thủ và cũng tại đây “lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh Đông Dương, địch cấu trúc các tuyến hào chống tăng  để chặn đối phương.

1510790_699727460048838_291856589_n

Ngoài hầm hào, rào kẽm gai bãi mìn chống bộ binh ở các căn cứ, đồn bót sẵn có từ trước, địch đã thiết kế những trận địa mới, đào hào, rải mìn chống tăng, đưa các xe tăng M.41, M.48 nằm sâu dưới các ụ đất, các hầm hào có bao cát bao quanh, chĩa nòng pháo về các con đường tiến của xe tăng ta. Ngoài ra địch còn biến các dãy phố, nhà dân, công sở, nhà thờ, trường học, bệnh viện thành trận địa. Chúng chất lên đó những bao cát thành lô cốt, hoả điểm, thành những ổ đề kháng lợi hại. Chúng đặt súng M.72 hoả tiễn chống tăng, súng máy 12,7 ly, ĐKZ 57 trên những tháp chuông, cửa sổ nhà tầng, sẵn sàng nhả đạn, chặn đường tiến của ta. ” ( trích Hồi ký Hoàng Cầm ).

02_M113

***

Lữ đoàn 3 cùng Liên đoàn 33 Biệt động quân, Trung đoàn 8 Bộ binh – thuộc sư đoàn 5, cũng như Địa phương quân và Nghĩa quân Biên Hòa đã  chặn đứng cuộc tấn công vào Biên Hòa của quân đội Bắc Việt – Sư đoàn 341  do Thượng tướng Hoàng Cầm chỉ huy.  Họ đã đứng vững, bảo vệ thành công thành phố Biên Hòa đến ngày 30/04/1975.

04_M113

arvntqk3

Đến rạng sáng ngày 30/04/1975 quân đội  Bắc Việt rút lui bỏ Biên Hòa, đi đường vòng qua Biên Hòa để hợp quân đánh vào Sài Gòn. Chuẩn tướng Trần Quang Khôi đã quyết định chia Lực Lượng Xung Kích Quân đoàn 3 thành ba cánh quân trong vòng trật tự, quân phục chỉnh tề, tác phong nghiêm chỉnh, không hề nao núng rời thành phố Biên Hòa về giải cứu thủ đô Sài Gòn. Trên đường hành quân thì nghe lời kêu gọi ngưng chiến đấu của Tổng thống Dương Văn Minh.

09_TGQLVNCH1975

Chiến Xa M-41 và Thiết Vận Xa M-113.

Chiến Xa M-41 và Thiết Vận Xa M-113.

***

Theo Wikipedia tiếng Việt thì:

Ngày 29/4/1975 vào khoảng 18 giờ,địch quân bắt đầu xâm nhập vào vị trí từ Mạn Bắc và Ðông Bắc đụng phải Chiến Ðoàn 322 và 315 và bị đẩy lui. Tình hình sau đó trở nên khá yên tĩnh.Khoảng 23:45 giờ khuya: địch quân lại bắt đầu pháo kích dữ dội vào thành Phố Biên Hòa và đồng thời tập trung một lực lượng gồm bộ binh và chiến xa tấn công vào hướng Bộ Tư Lệnh QÐIII. Chiến Ðoàn 315 xông ra chặn địch và Cộng quân phải rút lui.Lúc 03:00 giờ sáng: địch lại pháo kích dữ dội và chính xác hơn vào TP Biên Hòa. Ðoàn chiến xa của địch vừa xuất hiện đã bị bắn hạ và chúng tháo chạy ngược ra xa lộ Biên Hòa. Kể từ đó, TP Biên Hòa lại trở lại yên tĩnh.

***

 Trước đó, cuộc lui binh rối loạn ở Vùng I Chiến Thuật miền Trung đã ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần chiến đấu của binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa.

Ngoài ra, những tin tức về sự thất thủ chưa xác thực với tình hình chiến sự ở các thành phố lớn như Nha Trang, Đà Lạt…  của các đài nước ngoài như BBC cũng gây ảnh hưởng hoang mang không ít.

Đến khi Chuẩn tướng Trần Quang Khôi được tỵ nạn chính trị sang Hoa Kỳ sau 17 năm tù đày trong trại cải tạo CS, tướng lĩnh Mỹ mới biết sự thật rằng Biên Hòa không hề thất thủ.

Trong khi Liên Xô và Trung Quốc tăng cường viện trợ thêm nhiều khí tài tối tân cho đồng minh Cộng Sản của mình là quân đội Bắc Việt cho cuộc chiến Việt Nam, thì chính phủ Hoa Kỳ đã cắt giảm rất lớn và đột ngột viện trợ cho quân lực VNCH – sau khi đã rút hết quân đội Mỹ ra khỏi VN. Quân viện VNCH đã bị hạn chế đáng kể : ” Hồi đó mỗi khẩu pháo 105 ly bắn 1000 trái hoặc không hạn chế. Sau đó chỉ được bắn 6 trái một ngày… “

Theo lời kể của Chuẩn tướng VNCH Trần Quang Khôi: Sau cuộc chiến 75, trong hồi ký “ Đại thắng mùa Xuân “ của Đại tướng Bắc Việt Văn Tiến Dũng đã không nhắc đến trận Biên Hòa. Ngay cả Thượng tướng Hoàng Cầm – người chỉ huy trực tiếp đánh chiếm Biên Hòa không thành công, cũng đã im lặng. Mãi đến năm 1995, khi Chuẩn tướng Trần Quang Khôi công khai nhắc đến trận chiến này, Thượng tướng Hoàng Cầm mới cải biên trong Hồi ký của ông về sự thật này.

Trong hồi ký ” Chặng đường mười nghìn ngày  “( in lần thứ hai  ) của Thượng tướng Hoàng Cầm khi tấn công Hố Nai – Biên Hòa có đoạn:

Ngoài hầm hào, rào kẽm gai bãi mìn chống bộ binh ở các căn cứ, đồn bót sẵn có từ trước, địch đã thiết kế những trận địa mới, đào hào, rải mìn chống tăng, đưa các xe tăng M.41, M.48 nằm sâu dưới các ụ đất, các hầm hào có bao cát bao quanh, chĩa nòng pháo về các con đường tiến của xe tăng ta. Ngoài ra địch còn biến các dãy phố, nhà dân, công sở, nhà thờ, trường học, bệnh viện thành trận địa. Chúng chất lên đó những bao cát thành lô cốt, hoả điểm, thành những ổ đề kháng lợi hại. Chúng đặt súng M.72 hoả tiễn chống tăng, súng máy 12,7 ly, ĐKZ 57 trên những tháp chuông, cửa sổ nhà tầng, sẵn sàng nhả đạn, chặn đường tiến của ta.

Về vấn đề Sư đoàn 341 của Thượng tướng Hoàng Cầm bỏ Biên Hòa, đi đường vòng hợp quân tấn công Sài Gòn được viết một cách khéo léo như sau:

Nhưng địch ở đây – căn cứ Biên Hoà – khu vực phòng thủ mạnh nhất của địch trước cửa ngõ Sài Gòn vẫn tiếp tục chống trả, kể cả những tên đang lẩn lút. Các đơn vị Quân đoàn chưa vượt sang tây sông Đồng Nai. Bốn giờ sáng, phân đội đi đầu của Sư đoàn 7 tiến đến cầu sắt xe lửa Biên Hoà nhưng tăng không qua được vì cầu này yếu, trọng tải chỉ đảm bảo xe 12 tấn. Cầu Mới bị địch phá.

Sau khi Bộ tư lệnh Quân đoàn thống nhất quyết tâm bằng bất cứ giá nào phải đánh chiếm cho được Biên Hoà trước 0 giờ ngày 30 tháng 4, tôi lệnh cho các đơn vị:

– Sư đoàn 6 bỏ các vị trí, các căn cứ còn lại ở Hố Nai, tiến theo bên trái đường số 1, đánh chiếm sở chỉ huy quân đoàn 3 và cầu Ghềnh, thọc sang bờ tây sông đánh chiếm đầu cầu, giữ bàn đạp.

– Sư đoàn 341 vòng qua phía bắc, đánh chiếm sân bay Biên Hoà.

– Sư đoàn 7 đột phá từ Hố Nai, đập vỡ lá chắn địch ở ngã ba Tam Hiệp, cố gắng đưa đội hình sang tây sông Đồng Nai trong đêm.

Khi được tin sở chỉ huy nhẹ của quân đoàn 3 chuyển về Gò Vấp tối 29 tháng 4, qua đài kỹ thuật Lê Minh Đảo cầu cứu Bộ Tổng Tham mưu nguỵ rút quân sang bờ tây sông Đồng Nai, trong khi các lực lượng ta vẫn còn bị địch chặn ở ngã ba Hố Nai đi Biên Hoà… Sau khi điện xin ý kiến và được Bộ chỉ huy chiến dịch chấp thuận về trường hợp Sư đoàn 7 không theo kế hoạch cũ, tôi ra lệnh, lúc ấy là 6 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975.

***

Bài viết của Chuẩn tướng Trần Quang Khôi cũng có đoạn:

Bây giờ là 8 giờ 30 ngày 30-4-75, tôi kết luận buổi họp: “Biên Hòa không còn là mục tiêu tấn công của địch nữa. Tôi nghĩ rằng giờ này các lực lượng chủ lực cộng sản BV đang tập trung tấn công Sài Gòn. Rõ ràng chúng bỏ Biên Hòa, dồn lực lượng đánh vào Thủ Ðô. Chúng ta mất liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu. Bây giờ tôi quyết định kéo toàn bộ Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III về tiếp cứu Sài Gòn.

Quân lính Nam Việt Nam và nhóm phóng viên truyền hình Phương Tây tìm chỗ trú ẩn trước đạn pháo của người Bắc Việt ở cầu Tân Cảng, Sài Gòn, 28 tháng Tư 1975. Hình AP Photo Hoanh.

Quân lính Nam Việt Nam và nhóm phóng viên truyền hình Phương Tây tìm chỗ trú ẩn trước đạn pháo của quân Bắc Việt ở cầu Tân Cảng, Sài Gòn, 28 tháng Tư 1975. Hình AP Photo Hoanh.

Dưới đây là trích đoạn bài viết ( đã bị xóa ) của tờ báo „Quân Đội Nhân Dân„ viết về Chuẩn tướng Trần Quang Khôi:

Khoảng 5 ngày trước khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, Trần Quang Khôi vẫn “thể hiện” với quân lính và cấp trên sự “can trường” của mình. Sáng 30-4-1975, khi thấy Biên Hòa đã không còn là mục tiêu bị tấn công bởi Quân Giải phóng đang tập trung tiến về Sài Gòn, trong “canh bạc” cuối, Trần Quang Khôi đã họp bàn với chỉ huy các đơn vị thuộc lực lượng xung kích Quân đoàn 3 để đi đến quyết định: Kéo toàn bộ lực lượng về tiếp cứu Sài Gòn.

 

Huỳnh Minh Tú – tham khảo và biên tập từ nhiều nguồn:

 1. Phỏng vấn Chuẩn tướng Trần Quang Khôi của đài SBTN:

Phần 1:

Phần 2:

Phần 3:

2. – CHẶNG ĐƯỜNG MƯỜI NGHÌN NGÀY – Hoàng Cầm

3. Bài viết của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi – Trong 5 Ngày Cuối Cùng Của Cuộc Chiến Tranh Việt Nam

***

Ghi chú:

– Đài SBTN đã nhầm lẫn khi gọi ông Trần Quang Khôi là Thiếu tướng trong cuộc phỏng vấn. Thực ra ông là Chuẩn tướng Brigadier General ).

***

– Tiểu sử Chuẩn tướng quân lực VNCH Trần Quang Khôi:

Trần Quang Khôi xuất thân trong một gia đình điền chủ ở Rạch Giá (Kiên Giang).

– Ông tốt nghiệp Trường Võ bị Đà Lạt với thành tích xuất sắc- hạng 6/181 học viên và được chọn để đi đào tạo ở nước ngoài.

* Tốt nghiệp:
– Trường Kỵ Binh SAUMUR, Pháp 1955.
– Trường Thiết Giáp Lục Quân Hoa Kỳ FORT KNOX, Kentucky 1959.
– Trường Đại Học Chỉ Huy và Tham Mưu Lục Quân Hoa Kỳ FORT LEAVENWORTH, Kansas 1973.

* Cấp bậc và chức vụ sau cùng: Chuẩn Tướng, tư lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh thuộc Quân Đoàn III/QLVNCH.

– Ông chỉ huy Chiến đoàn 318 tham chiến tại chiến trường Cam-pu-chia trong các năm 1970-1971.

– 1972, ông tiếp tục sang Mỹ du học, đó cũng là thời điểm lực lượng xung kích Quân đoàn 3 bị giải thể và Lữ đoàn 3 kỵ binh của Khôi bị phân tán ra từng mảng nhỏ.

-Tháng 7/1973, ông về nước và được Tư lệnh Quân đoàn 3 Phạm Quốc Thuần (vừa lên thay Nguyễn Văn Minh) giao cho nắm lại Lữ đoàn 3 kỵ binh ở Biên Hòa.

– Được cấp trên tin tưởng, việc đầu tiên ông tiến hành là gom các đơn vị thiết giáp bị phân tán về Lữ đoàn 3 và trình Phạm Quốc Thuần phương án tổ chức lại lực lượng xung kích của quân đoàn theo mô hình từ thời Đỗ Cao Trí (chia lực lượng gồm :Thiết giáp, biệt động, pháo binh, công binh để có thể cơ động) và đến cuối tháng 3/1974 thì quân đoàn 3 thành quy củ.

– Tháng 4-/1974, ở tuổi 40, ông được phong Chuẩn tướng.

– 28/4/1974, ông đem lực lượng thiết kỵ bí mật thâm nhập Campuchia, bất ngờ đánh úp hậu cứ của quân đoàn 5 (binh đoàn Chi Lăng) giải thoát cho tiểu đoàn 83 Biệt động quân đang bị bao vây trong căn cứ Đức Huệ.

– Tháng 4/1975, ông chỉ huy Lữ đoàn 3 Kỵ binh cố thủ Biên Hòa và đánh bật nhiều mũi tấn công của quân Bắc Việt Nam khiến họ phải từ bỏ kế hoạch đánh Biên Hòa và vòng qua Biên Hòa để đánh thẳng vào Sài Gòn.

– Sáng 30-4-1975, ông quyết định kéo hết quân thủ Biên Hòa về tiếp cứu Sài Gòn.

– Sau ngày 30/4, vì là sĩ quan của chế độ cũ nên ông bị chính quyền đương nhiệm bắt và đưa đi cải tạo.

-1992, ông được thả và tỵ nạn chính trị sang Hoa Kỳ vào năm 1993.

– Tiểu sử Thượng tướng quân đội Bắc Việt Hoàng Cầm:

Mời đọc thêm:

– Tướng Trần Quang Khôi – Raymond R. Battreall -Đại Tá, Thiết Giáp (Armor, March-April 1996)

Viện Trợ Quân Sự Cho Việt Nam Trong Chiến Tranh

 Những trận chiến cuối cùng 30/4/1975 

Advertisements

13 comments on “Một tư liệu lịch sử: 30/4/1975 Biên Hòa đã không thất thủ

  1. Từng là một người lính chiến thuộc tiểu đoàn 8, trung đoàn 31, sư đoàn 2BB quân giải phóng quân khu 5, có gần 5 năm (1970 – 1975) trực tiếp cầm súng chiến đấu ở chiến trường, chủ yếu tại Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Kon Tum và đã từng chỉ huy cấp đại đội, tôi hoàn toàn đồng ý với bạn Minh Phương.
    Trong chiến tranh, về mặt chiến dịch, chiến lược, có những lúc, người ta bỏ qua những mục tiêu không còn quan trọng để tiến đánh và chiếm lĩnh những mục tiêu quan trọng hơn, nhất là những mục tiêu có giá trị chiến dịch, chiến lược. Khi đã chiếm được những mục tiêu quan trọng hơn, có giá trị chiến dịch, chiến lược thì những mục tiêu không hoặc ít quan trọng tất yếu sẽ tự rút lui, tan rã hoặc đầu hàng.
    Ví dụ: Sau khi đánh chiếm thị xã Tam Kỳ, thủ phủ tỉnh Quảng Nam (phía VNCH gọi là Quảng Tín) vào trưa 24/3/1975, đến chiều 26/3 chúng tôi được lệnh bí mật hành quân bộ ra giải phóng thành Phó Đà Nẵng. Trung đoàn 31BB chúng tôi là cánh quân duyên hải tấn công từ phía Nam và Đông – Nam thành phố. Đường hành quân Từ Tam Kỳ ra Đà Nẵng hơn 70km. Trên quãng đường 70km ấy, phần lớn các chi khu, quân lỵ căn cứ của quân lực VNCH ở hướng Nam và Đông – Nam Đà Nẵng như Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An, Hòa Vang … và hàng chục căn cứ lớn thuộc các đơn vị chủ lực mạnh của quân đội VNCH như Tuần Dưỡng, Núi Quế, Hương An, Ngũ Hành Sơn, Sân bay Nước Mặn, bán đảo Sơn Trà và Bộ tư lệnh vùng 1 Hải quân, Trung, tâm huấn luyện Hòa Cầm, vân vân… vẫn thuộc quân đội VNCH chiếm đóng. Thế nhưng, dưới sự dẫn đường của du kích địa phương và đơn vị trinh sát, các hướng, các mũi của các đơn vị thuộc sư đoàn 2BB quân giải phóng đã luồn lách, bỏ qua (không đánh chiếm) tất cả các chi khu, quận lỵ và các căn cứ của quân đội VNCH để thẳng tiến vào Đà Nẵng đánh chiếm các mục tiêu trong yếu và chiếm lĩnh toàn bộ thành phố vào lúc 15 giờ ngày 29/3/1975. Ngay khi nghe tin quân giải phóng đã làm chủ thành phố Đà Nẵng thì tất cả các chi khu, quân lỵ, căn cứ của quân đội VNCH đều tự tan rã hoặc đầu hàng quân giải phóng.
    Hoặc như chiến dịch Tây Nguyên tháng 3/1975, quân giải phóng chon mục tiêu hiểm yếu, có tính chiến lược là thị xã Buôn Mê Thuột để đánh chiếm, chứ không đánh chiếm thị xã Kông Tum hoặc thị xã Pleiku (nơi có căn cứ của Bộ tư lệnh quân đoàn 2/quân khu 2 của QLVNCH). Sau khi Buôn Mê Thuột bị quân giải phóng chiếm lĩnh, mặc dù lúc đó tại Tây Nguyên, quân lực VNCH vẫn còn cả quân đoàn 2 và 2 liên đoàn Biệt động quân tương đối nguyên vẹn, nhưng toàn bộ hệ thống phòng ngự của quân lực VNCH tại quân khu 2 bị rúng động và buộc phải tháo chạy tán loạn trên đường số 7, tạo điều kiện cho quân giải phóng làm chủ toàn bộ Tây Nguyên.

  2. Một cái chết tức tưởi của đất nước, nhưng bây giờ vẫn còn nhiều kẻ bám đít vc..... buồn cho Dân tộc tôi.

    Lúc đó mà để cho một tướng AET là dân TSQ lên nắm toàn quyền thì tụi vc chỉ có nước ăn đạn….3 tướng lãnh của quân đội = 1 TSQ..

    • cuối cuộc chiến mới thấy khả năng của tướng tá ql vnch cùng tinh thần binh sỉ,còn nhiều người tài ba xuất sắc nhưng vì”canh bạc chưa chơi đã hết vốn,cờ còn nước đánh phải đành thua”,40 năm sau vẩn xin ca ngợi ch/tướng TRẦN QUANG KHÔI,nhân chứng sống của vòm sao thời đạn lửa..,bọn chủ trương phá hoại cầu hòa ác tâm trong giới phản chiến,trong báo chí và trong quốc hội HOA KỲ lúc đó nghĩ sao giây phút cuối cùng miền nam VN vẫn thể hiện sự can trường dù đả bị phản bội trắng trợn!!!

  3. lam chien tranh phai biet ket thuc chien tranh,bo bien hoa danh chiem sai gon de ket thuc chien tranh .do moi la nha cam quan gioi

  4. VC không tập trung lực lượng đánh chiếm cho bằng được Biên Hòa là vì đến lúc đó Biên Hòa không còn là mục tiêu quan trọng nữa, đánh chiếm làm gì cho tốn xương máu, tốn đạn. VC tập trung toàn lực đánh chiếm thủ đô Sài Gòn là Biên Hòa sẽ tự tan rã ngay. Vì lý do đó nên VC không thèm đánh Biên Hòa nữa. Nếu VC tập trung lực lượng quyết đánh chiếm bằng được thì Biên Hòa chắc chắn 100% Biên Hòa bị VC chiếm. Như thế có nghĩa là, không phải quân tướng của ông Trần Quang Khôi quá tài giỏi, còn VC thì quá ngu dốt và sợ chết, mà đó là VC đã nhận định tình hình chiến trường rất chính xác để đi đến một quyết định rất thông minh, đỡ tốn sinh mạng binh lính và vũ khí, súng đạn.

    • theo cách bạn nói thì không giống với tính cách VC,bạn có đọc thấy rằng vì không đánh nổi nên mới tìm đường khác không,VC mà chịu từ bỏ khi họ oang rằng thà hi sinh chứ không thể lùi bước .

      • Tay Minh Phương này chắc là DLV. Còm này hắn chắc còm thăm dò thôi, nên giọng điệu còn nhẹ nhàng, nhưng bênh vực VC rõ ràng:
        Trích ” Như thế có nghĩa là, không phải quân tướng của ông Trần Quang Khôi quá tài giỏi, còn VC thì quá ngu dốt và sợ chết, mà đó là VC đã nhận định tình hình chiến trường rất chính xác để đi đến một quyết định rất thông minh, đỡ tốn sinh mạng binh lính và vũ khí, súng đạn.”

        Khi hắn còm ở bài “Tại sao Quốc Ca VNCH lại là một bài hát của một Đảng viên CS ?” thì hắn mới lộ rõ bộ mặt làm chó săn DLV cho CS:
        https://tuxtini.com/2014/01/26/tai-sao-quoc-ca-vnch-lai-la-mot-bai-hat-cua-mot-dang-vien-cong-san/

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s